(TN&MT) - ĐBSCL vùng đất trên 4 triệu hecta, là kết quả bồi tụ phù sa trong hơn 6 nghìn năm qua, với gần 20 triệu người sinh sống, đang bị gây hại nặng nề bởi vấn nạn sạt lở, hạn, xâm mặn, do biến đổi khí hậu và tác nhân chính là các đập thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông...
Tác hại nặng nề đang diễn ra trước mắt…
Trong khi nhiệt độ tăng, mùa khô kéo dài đến cuối tháng 6, lượng mưa giảm, sạt lở ven biển tiếp diễn phức tạp, nước mặn đã lấn sâu trên 45km tới “ruột” ĐBSCL và dự báo sẽ còn lấn sâu đến 100km. Có khả năng ½ diện tích toàn vùng ĐBSCL bị xâm mặn, mức thiệt hại về nông nghiệp đến thời điểm này ước tính đã lên tới hàng nghìn tỉ đồng, thì các nhà khoa học đã khẳng định tác nhân khiến mức độ thiệt hại nghiêm trọng chính là các đập thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông.
Tại Hội thảo “Tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông” do Đại học Cần Thơ tổ chức ngày 4/3, các nhà khoa học một lần nữa đã chỉ rõ việc trữ nước và ngăn phù sa từ 11 đập thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông mà các quốc gia thượng nguồn đã đưa vào vận hành khiến dòng chảy, lượng phù sa về hạ lưu suy kiệt, gây ra sạt lở, mất cân bằng sinh thái, làm xáo trộn đời sống của nông, ngư dân vùng hạ nguồn - ĐBSCL gánh chịu thiệt hại nặng nề nhất.
![]() |
| GS.TS Nguyễn Ngọc Trân, tham luận tại hội thảo “Tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông” do Đại học Cần Thơ tổ chức ngày 4/3/2016 |
GS.TS. Nguyễn Ngọc Trân (nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước, nguyên phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội) chỉ rõ rằng hơn 200km từ biên giới Campuchia đến đường bờ biển hiện tại của Việt Nam là kết quả bồi tụ phù sa trong 6.000 năm qua. Vùng ĐBSCL là hạ lưu sông Mê kông, sự mở rộng mũi Cà Mau là do phù sa sông Mê kông mang lại. Các đập thủy điện đã chặn đường vận chuyển phù sa, cắt đứt quá trình kiến tạo đồng bằng, lượng bùn giảm hơn 50% khiến ĐBCSL đứng trước nguy cơ sạt lở với tốc độ ước lượng 4 – 12m/năm. Mũi Cà Mau sẽ giảm tốc độ bồi đắp khoảng 1m/năm. Điều này đồng nghĩa với việc nông dân sẽ bị mất đất canh tác, đất đai giảm màu mỡ, thu nhập của nông – ngư dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đối diện nguy cơ nghèo đói…
Theo GS.TS Nguyễn Ngọc Trân, các đập thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông còn khiến vùng hạ nguồn bị suy giảm sản lượng thủy sản, nhiều chủng tôm cá biến mất. Ước tính, vùng ĐBSCL bị giảm 600.000 tấn thủy sản/năm; tác động sụt giảm năng suất nông nghiệp cũng giảm gần 224.000 tấn/năm. Tổng thiệt hại nông nghiệp và thủy sản khoảng 5,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 2,3% tổng GDP của toàn vùng.
PGS.TS. Dương Văn Ni, Giám đốc Trung tâm thực nghiệm đa dạng sinh học (Đại học Cần Thơ) lo ngại sự tác hại từ các đập thủy điện này đang đẩy nhiều hộ nông dân lâm vào tình cảnh mất đất canh tác, ngư dân giảm sản lượng đánh bắt, công nhân chế biến bị mất việc do nhà máy chế biến thủy sản không đủ nguồn thủy sản cung cấp đầu vào… những đối tượng này sẽ phải bỏ nơi sinh sống, di cư lên các khu công nghiệp của địa phương khác mưu sinh và sẽ kéo theo cả một chuỗi hệ lụy về an sinh xã hội.
![]() |
| - Sạt lở đê ngăn mặn ven biển tỉnh Sóc Trăng cuối tháng 2/2016 |
Cần phải nhắc lại, tác hại từ việc xây đập thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông đã được PGS.TS Lê Anh Tuấn, Phó giám đốc Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ), nhiều lần cảnh báo. Gần đây nhất, tại hội thảo “Thủy điện Mekong: khoa học, chính sách và tiếng nói cộng đồng” tổ chức tại An Giang vào đầu mùa khô (11/2015), ông đã chỉ rõ rằng các con đập thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông đã và đang “đánh” vào hai trụ cột kinh tế lớn nhất vùng ĐBSCL là nông nghiệp và thủy sản. Việt Nam sẽ mất đi vai trò là nước hàng đầu trong xuất khẩu lương thực và thực phẩm trên thị trường quốc tế. Người nghèo, cả ở nông thôn và thành thị, sẽ bị tổn thương nặng nhất và hiện tượng di cư sẽ diễn ra trên diện rộng, làm suy giảm gần như vĩnh viễn và không khôi phục được phần lớn hệ sinh thái đất ngập nước và tính đa dạng sinh học ở ĐBSCL.
“Thiệt hại do thủy điện sẽ tác động dây chuyền theo hiệu ứng domino với nhiều rủi ro chưa thể dự báo trước được, và vận hành thủy điện sẽ làm cho các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu khó thực hiện và nảy sinh nhiều hệ lụy mới” - PGS.TS. Lê Anh Tuấn, khẳng định.
Dự án nghiên cứu đánh giá chưa sát thực tế…
Từ các tác hại đã và đang diễn ra trước mắt ở ĐBSCL, tại hội thảo khoa học về “Tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê kông”, các nhà khoa học cũng đã phản bác kết luận 11 đập thủy điện trên sông Mê kông ảnh hưởng không đáng kể đến ĐBSCL và đời sống của hàng triệu người dân nơi đây là phi thực tế.
GS.TS Nguyễn Ngọc Trân, cho rằng kết luận trong báo cáo của dự án “Nghiên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê kông (MDS-Mekong Delta Study)” (gọi tắt là MDS) do Viện Thủy lợi Đan Mạch (DHI) tư vấn thực hiện chưa đánh giá toàn diện và các số liệu tính toán còn nhiều sai sót.
Thực tế, các đập thủy điện ở Trung Quốc vận hành theo năm, theo mùa còn kết luận trong MDS thì lại cho rằng 11 đập trên sông Mê kông vận hành theo quy luật 16 giờ tích nước, 8 giờ xả trong mỗi ngày. Ông Trân, nhấn mạnh: “11 đập do 11 nhà đầu tư khác nhau thực hiện với lượng nước đến khác nhau, khả năng chứa cũng khác nhau…, thì liệu các nhà đầu tư có tuân theo các chế độ của MDS đưa ra hay không (nghĩa là 16 giờ tích nước, 8 giờ xả mỗi ngày), nhất là khi họ có chung mục đích là tìm lợi nhuận cao nhất nên họ sẽ bất chấp chế độ vận hành như thế nào?”.
Ông Trân cũng chỉ ra một số vấn đề hạn chế ở dự án MDS, đó là: thứ nhất, tiếp cận không đầy đủ, một chiều và không hệ thống; thứ hai, mô hình hóa, cơ sở khoa học của mô hình hóa như thế nào? nhất là sai số và tích lũy lan truyền sai số trong quá trình dòng chảy đi từ thượng nguồn ra tới ngoài biển; thứ ba, thiếu về số liệu đầu vào là một giới hạn gây khó khăn để thực hiện mô hình…
![]() |
| - Nhiều tuyến kênh cấp 2 tại ĐBSCL đã cạn trơ đáy |
TS. Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về sinh thái, sông ngòi, cho rằng MDS thiên về đơn giản hóa vấn đề; đánh giá thiếu và thấp những ảnh hưởng đối với ĐBSCL từ các đập thủy điện trên sông Mê kông. Đánh giá không đầy đủ về thủy sản khi cho rằng mất cá trắng mà không mất cá đen. Việc chọn loài cũng không phù hợp.
Trong khi đó, PGS.TS Dương Văn Ni, cũng cho rằng các kết quả trong MDS còn chưa thống nhất; công bố tác động thì nhỏ hơn rất nhiều so với những cái mà các nhà khoa học ở ĐBSCL hiểu biết cũng như những tài liệu đã công bố. Cụ thể, MDS cho biết việc giảm phù sa, giảm cát sẽ làm giảm sản lượng gạo Việt Nam khoảng 500.000 tấn/năm, nhưng cũng trong báo cáo này thì lại cho rằng sản lượng lúa không bị tác động đáng kể. Chỉ nhắc đến cá, nhuyễn thể, loài thân mềm; còn nói đến nông nghiệp, thì cũng chỉ nhắc đến lúa và bắp; trong khi dinh dưỡng thì chỉ có đạm, lân và kali… “Chính vì những cách tính toán như vậy nên làm giá trị thực (chưa nói đến chuyện tính đúng, tính sai) nó sẽ nhỏ hơn rất nhiều so với những cái chúng ta hiểu”, ông nói.
![]() |
| Hàng trăm ngàn hecta lúa tại ĐBSCL đang chết dần vì thiếu nước ngọt, xâm mặn |
Tại Hội thảo “Tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông” nhiều ý kiến của các chuyên gia đã cho rằng những kết quả do MDS công bố là không đáng tin cậy, chưa đánh giá hết được những ảnh hưởng từ các đập thủy điện sẽ tác động đến đời sống và sinh kế của người dân vùng ĐBSCL. Chính phủ Việt Nam và Ủy hội sông Mê Kông Việt Nam cần phải đánh giá đúng mức, sát thực tế về sự tác hại của các đập thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông đã và đang tác động rất nghiêm trọng đến ĐBSCL. Các chuyên gia cũng khuyến nghị Chính phủ Việt Nam và Ủy hội sông Mê Kông Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong các diễn đàn của Ủy hội sông Mê Kông quốc tế, tác động đến các quốc gia xem xét điều chỉnh quy hoạch thủy điện trên dòng chính sông Mê kông trên cơ sở hài hòa lợi ích của các quốc gia trong lưu vực.
Bài & ảnh: Hùng Long












Chúng tôi luôn cung cấp cho người dùng dịch vụ được đánh giá là tốt nhất. Tuy nhiên trước khi sử dụng
dịch vụ trên website, chúng tôi khuyên bạn nên đọc kỹ các Điều khoản và
Quy định dưới đây.